Chơi Đồ Hàng

Chỉ ba chữ “Chơi Đồ Hàng” thế thôi mà cả một trời kỷ niệm ùa về, ai bảo già hay lú lẫn – lú lẫn mà có thể lôi trong hộp ký ức ra cả ngàn chi tiết thuở xa xưa nửa thế kỷ được sao? Hộp ký ức ấy trong suốt như khối thạch được nấu từ bột rong biển ẩn hiện những đóa hoa tim tím xinh xinh bị mưa ngoài vườn được hái mang thả vào khi thạch còn ở trạng thái lỏng.

Kỷ niệm cũng đã được đặt tên cho một bài hát từ nhạc sĩ Phạm Duy: ” Trăng lên bằng ngọn cau – Me tôi ngồi khâu áo bên cây đèn dầu hao – Cha tôi ngồi xem báo phố xá vắng hiu hiu – Trong đêm mùa khô ráo tôi nghe tiếng còi tàu – Cho tôi lại chiều hè, tôi đi giữa đường quê – Hai bên là hương lúa, xa xa là ngọn tre – Thấp thoáng vài con nghé – tiếng nước dưới chân đê!”
Những hình ảnh trong lòng tôi đúng y như thế, lại thêm bao nhiêu điều trẻ dại nghịch ngợm tìm mọi thứ quanh quẩn ngoài ngõ ngoài hè bên hàng xóm để chơi đồ hàng – thuở xa xưa ấy không có tv chảng hề có “game” iphone ipad – mạng internet – facebook.
Mẹ ngồi khâu áo – cha đọc báo, đường phố chưa có tiếng bình bịch, xe đạp xe ba gác là phương tiện chính, nếu thảng hoặc có xe hàng xe taxi, thì chiều tối cũng đã về nhà đi ngủ nên “phố vắng hiu hiu” quả là lúc phải đi chơi đồ hàng vì chưa buồn ngủ! Nến được thắp nhỏ vào ly nước làm bánh bèo, thằng bạn hàng xóm bày trò gom lá khô nhóm lửa thổi cho khói bay làm thành hình tượng để dụ dỗ con bé bán cho nó dĩa bánh bèo đặt trên lá bông giấy có đũa cũng từ gai bông giấy để khỏi phải trả tiền lá hoa ngâu, điều kiện là khói phải có hình cô tiên hay trái tim tùy theo ý cô bán bánh!

Đọc tiếp “Chơi Đồ Hàng”

Hương Trà

Nhớ vườn trà ngày xưa trồng gốc trà xanh bây giờ, nụ hoa be bé xinh xắn ấy gợi bao điều tôi nhớ từ ký ức xa xa!
Trời trở lạnh góc bếp là nơi tôi thích trú ngụ, mở tủ lấy nhừng thứ tôi giấu diếm, pha trộn khuấy chúng lên nấu nướng và chụp hình!
Mùi thơm của đường hòa mùi thơm của lá vị chưa nếm đã mang mang!
Mời ai đây quanh mình là mình – ngọt ngào xưa chẳng nếm đã say say
Ngọt ngào nay bỗng thành độc dược – kiêng cữ cho lành kẻo cuối nẻo đến nhanh!
Thế nhé! Ngọt ngào qua mức 100 là phải lo ngưng ngay lại đấy nhớ không nào?

Cái Ngạch Cửa

– Trời đất, ma quỉ đã đầy đuờng còn mặc chi mấy bộ đồ thấy ghê vậy bà. Đẹp sang không muốn sao mà chùm cái đầu tóc bờm xờm phù thủy, mắt to mày liễu không hơn sao mà mang cái mặt nạ nhăn nhẻo nhăn nheo?

– Bà mới là không biết theo thời, mỗi năm cho ma quỉ một ngày vẫn còn ba trăm sáu mươi bốn ngày làm Thánh, ngày mai là lễ các Thánh, để các ngài dìm đầu ma quỉ xuống âm ti. Để tôi nói cho bà nghe, ma quỉ với thánh thần gần xịt hà, buớc qua “cục gạch ngạch cửa” thì đang là thánh thành quỉ ma cái một, bà không tin hả tôi nói cho nghe.

Đọc tiếp “Cái Ngạch Cửa”

Mắm Và Rau

Chị Hai ơi, tết qua rồi, bánh chưng chiên, bánh tét chiên hết ráo, chị nghĩ coi nấu món chi ăn đi chị,  ngày mơi bạn tui ghé thăm, hổng lẽ tui mang bạn tui ra hàng bún mắm Kiên-Giang?

Nấu ăn tui hổng rành, nói ra mắc cỡ, mà hông nói ra ai ghé nhà cũng nghĩ tui nấu ăn ngon, mèn ơi chị nhớ hồi tui nấu mâm cơm ra mắt bà già chồng tui hông chị, bả ăn mà mắt bả muốn trợn ngược, rau tui luộc còn dai nhách, màu xanh đâu hông thấy, thấy nó vàng như bẹ cải vồng bông, con cá tui kho cặp mắt tụi nó trợn trừng, mắm muối tiêu hành còn nguyên trân hổng thấm. Nhờ có bà mai dẻo miệng, ca cẩm tui với ổng hạp tuổi, thêm tướng tá tui vượng phu ích tử, tiểu yêu trường túc, nối dõi tông đường, mang phước tới nhà, trăm đàng hoàn hảo mà má chồng tui quên chuyện tui hông biết nấu ăn, cưới tui về làm dâu lấy kiểng.

Đọc tiếp “Mắm Và Rau”

Vuông Tròn Có Không!

Con tàu chòng chành lững lờ ra cửa biển, âm thanh huyên náo, mùi mồ hôi đụng chạm chen lấn, chân tóc uớt đẫm áo bết vào da, gió biển mằn mặn và đôi mắt nheo nheo vì nắng vì thiếu đôi kính cận, đã nhìn thấy đôi mắt khác chỉ từ đôi mắt mà nên chuyện cuộc đời có mặn ngọt cay chua, thời kỳ hạnh phúc tôi hay cợt đùa: “Tình em mắc cạn trong lòng mắt anh!”

Chiến hạm lênh đênh biển mặn. Chiều 29 tháng 4 năm 1975, mênh mông thăm thẳm mịt mù, ngầy ngật say sóng ngầy ngật ngoi lên boong tàu tìm chút không khí để thở, lại là ánh mắt lại là nỗi buồn tròng mắt nâu, đầu mày rậm hun hút. Nhận ly nước lọc nhận sự khởi thủy luyến lưu. Chung quanh những xa lạ, chung quanh những trắc trở chưa định hướng, sẽ sống thế nào trên bờ bến mới, làm thế nào để vào lãnh thổ nào đó chịu nhận những kẻ bỏ chạy, những kẻ lưu vong.

Đứa con gái mười tám tuổi hũ mắm chưa khui, trong đám con bốn đứa của một gia đình có ông cha tự mãn quyền thế, có bà mẹ là chiếc bóng phụng thờ người phối ngẫu, cơm bưng nuớc rót thưa dạ nhẹ nhàng, ban ngày là con sen nem nép sợ hãi, ban đêm chờ lượng hải hà ban phát mưa móc tình thừa sau những buổi yến tiệc say sưa, cột trụ của gia đình trở về mái ấm. Ba người anh núp bóng cha yên thân tóc dài, quần túm dạo phố Sài-Gòn, mặc kệ quốc gia binh biến.

Ngày đi học lúc còn được anh “hippy trẻ mặc áo rách đứng bên nhà thờ” ngắm đứa con gái tròn trăng đi lễ, lân la làm quen với các ông anh để len lỏi ghé thăm nhà, để được ngắm mái tóc xõa, ngắm đôi mắt hếch kỹ hơn, có kẻ đôi khi còn được ngắm bàn tay, khi cô con gái bị mang nước ra mời khách. Mẹ khuyên nhủ đợi chờ ngày gặp người xứng đáng hãy trao duyên gởi phận! Tôi ngán ngẩm nhìn mẹ, gởi phận trao duyên cho người xứng đáng có nghĩa là quyền thế giàu có giống như ba tôi, có gì vui?

Tình yêu, trong thời hỗn mang khiến đứa con gái mười tám tuổi ao ước được bên đôi mắt nâu mãi mãi, không muốn bị chia lìa cho dù chỉ vài giây, vài phút. Bà mẹ vẫn mang ước vọng tìm người xứng đáng cho con gái, nay ước ao ấy đã như bọt xà phòng vỡ nát, quyền thế vuột khỏi tay, nhà cao cổng kín có gốc ngọc lan hương thơm tỏa ngát đường Tú Xương mở toang chạy vội. Gia sản ù lì vài mảnh đất đôi căn biệt thự Đà Lạt – Nha Trang – Vũng Tàu chẳng gói mang đi được, nắm hạt xoàn mang theo, chẳng nên tích sự gì khi đói khát, sống tạm bợ trong trại tạm cư trên đảo Guam chỉ thêm lo ngay ngáy, phải giấu giếm vào đâu! Mỗi đứa con được mang vài lá vàng trong túi xách, từng khoen nhỏ gài vào lưng quần, mẹ nhỏ nhẹ để có vốn xây dựng đời mới, tiền mặt chẳng giá trị gì!

Biết con gái hẹn hò với chàng thủy thủ, chẳng biết tông ti họ hàng, chiếc lon đeo trên cổ áo hai ba gạch với chiếc vòng bắt heo, chẳng còn là danh là phận trong hoàn cảnh ấy, quan ba quan tư cũng ngang tầm với chàng “lính trơn kéo cờ thổi kèn tò te!” Mẹ tôi dùng những cụm từ đầy hình ảnh để con gái có thể hình dung ra thế nào là sang thế nào là hèn! Đàn ông sang phải có tiền hô hậu ủng xe đưa xe đón, dáng cao thẳng không được cong vẹo, mặt phải chữ điền, đôi chân mày rậm xếch. Người cong vẹo, mặt xương mắt lộ, cằm lưỡi cầy, mũi quặp có mà đi ăn mày!

Và rồi chỉ nghe phong phanh con gái mất nguyệt kỳ, mẹ vội vàng kêu người đến gả tống tháo cho xong, chẳng cần cân đo xứng đáng hay không xứng đáng, như lời bà hay khuyên nhủ. Đám cưới ngay trong trại tị nạn, cũng có rượu có bánh, cũng có nhạc có cười, cho dù tương lai mịt mù chưa rõ rệt. Tuổi trẻ thường không biết sợ là gì.

Tờ hôn thú ký vội cho đến ngày xé cũng đằng đẵng hơn ba mươi năm . Đằng đẵng dày vò nghiện ngập. Con nghiện là tôi, ngày thênh thang bén hơi trai, thuở tâm hồn phơi phới, môi hôn tay nắm, nghe lời nói ngọt ngào bên làn khói thuốc nồng nồng hơi đàn ông bí ẩn, đến tôi bây giờ người đàn bà thất bại, thất bại thảm thương!

Lấy chồng với tôi là thuộc về là của “anh ấy”, là mất chính mình, là “thẳng một đàng mà đi”, là hết “đi dọc đi ngang”, là khép mình trong bốn bức tường với phòng khách phòng ngủ phòng ăn . Thời son sắc sau khi lấy chồng đi học đi làm , những ánh mắt si mê theo sau lưng bỏ lại, trong khối óc là niềm tự hào người phụ nữ Việt Nam chân chính, chỉ biết yêu và phụng sự một người đàn ông, tôn vinh chồng lên ngôi thần thánh, lên ngôi thượng đế của riêng mình! Niềm tin hạnh phúc là sự hy sinh, hạnh phúc là phải quên mình, như nữ tuớng Ana một thân một ngựa xông vào quân thù tử tiết, biến mái nhà là nơi trú ẩn tuyệt vời, đóng tầm nhìn xa không cần biết gì đến thế giới bên ngoài, chẳng cần chi nữ quyền bình đẳng, cùng lúc tôi cũng muốn “anh ấy” phải suy nghĩ giống như tôi! Xã hội trai thiếu gái thừa từ Việt Nam, sang đến Mỹ đảo ngược thành trai thừa gái thiếu, gái Việt Nam thiếu trầm trọng, chỉ cần biết nói tiếng Việt là thành châu thành ngọc, bất kể đã có chồng hay chưa có chồng! Thêm lý do để tôi tự phụ về chính tôi, và muốn người chung gối phải biết điều ấy !

Tôi hiểu sâu sắc lý do tại sao mẹ tôi đã cung cúc phụng thờ, người đàn ông mà bà biết đã gieo không biết bao nhiêu tai tiếng trăng hoa, sau cái mã quyền uy sang trọng. Từ những cô thư ký đến các minh tinh nổi tiếng, quyền lực từ quan trường, quyền lực từ tiền bạc không đủ phỉ chí người đàn ông, phải thêm quyền lực rù quến được đàn bà, phải có thêm “muốn là được, càng khó khăn càng gợi niềm thích thú!” Đám người hầu cận bợ đỡ, muốn mua lòng tin của chủ dẫn dắt ông vào cửa mê cung muội, bẻ gẫy mọi ràng buộc nghĩa tình tự thưở nghèo hèn, dù vợ cái con cột nhan sắc chẳng kém một ai, hiền đức dịu dàng, chuyện mê của lạ của chồng, mẹ tôi để ngoài tai, bà tin vào lá bùa màu vàng dán trên nóc nhà có vẽ chữ tàu màu đen, gìn giữ hạnh phúc giúp bà.

Ngày xa xưa, người ta tin vào việc đặt lá bùa ngay hình tam giác tạo ra từ cột kèo dựng mái nhà, để gìn giữ hạnh phúc, hai hình tam giác hai đầu mái ấy có tên kêu rất lạ “khu đĩ” hay “lồn mèo” nơi ấy chim hay đến làm tổ – mèo hay đến giấu con, mẹ tôi tìm cho ra cái góc tam giác ấy để gói bùa dán vào. Có lẽ lá bùa ấy đã giúp mẹ tôi tự tin về địa vị của bà, quên mất việc ba tôi phải gìn giữ hình ảnh gia đình hạnh phúc để củng cố địa vị của chính ông! Ngay cả mẹ có muốn tháo cũi xổ lồng cũng chẳng thế nào làm được, cả một khối đạo đức Khổng Nho đè bẹp người phụ nữ, đặt để người phụ nữ vào vị trí phục dịch tôi đòi không lối thoát. Lâu ngày chày tháng thành quen.

Sang đến Mỹ, khởi đi từ căn apartment đến ngôi nhà chung vách duplex, lên khu town house, rồi bề thế ngôi nhà riêng single house, sân trước vườn sau, những cây cọ xanh quanh nhà tạo vòm che nắng, cầu kỳ xây hồ nuôi cá, chất đá tạo núi cho máy bơm nước để nghe như tiếng suối róc rách nỉ non. Chẳng có góc tam giác nào để thỉnh bùa rước phước, trấn giữ hạnh phúc lứa đôi.

Người đàn ông tuổi Mùi có tờ tử vi đầy sao tốt , hồng đào nằm nơi vượng địa, thiếu sao thủy chung đóng tại cung thê! Ngắm tờ tử vi của mình, người đàn bà tuổi Thìn, bị triệt hãm tại cung phu thảm thiết. Không tin số phận không được, tin thì bị mang tiếng hủ lậu phản khoa học, cái nợ phu thê hẳn cũng phải tùy thuộc vào hướng Đông Tây.

Tháo nhẫn ra khỏi ngón áp út, lóng tay dị dạng teo nhỏ vì nhẫn thít chặt quá lâu, nếu còn ở hướng đông, thế kỷ 20 ngày cũ, dễ gì người đàn bà dám tháo nhẫn cưới vứt đi. Người ta xôn xao đón điều gì đó gọi là Xuân, tôi nhìn ngón tay khoan khoái với ý tưởng, tự mình vừa cho người khác một mùa xuân đúng nghĩa trong tuổi xế thu!

Cơn nghiện ngầy ngật tự tôn mình là người quyền lực, thần thánh, khép cái tôi trong ngôi vị “chánh thất” đoan trang hiền thục muốn điều khiển chồng theo ý của mình đã hoàn toàn thất bại, thất bại không phải vì hai lá số tử vi có sao nằm nơi cung phu thê trái khoáy, thất bại vì cái gốc hạnh phúc tôi trồng bằng hình ảnh tự tôn chính mình, khép tội người khác. Người đàn ông một thời của tôi, không có đám hầu cận dẫn dắt vào cửa mê cung muội, chính tôi đẩy ông ấy vào đấy, tôi nhìn chồng tôi qua hình ảnh cha tôi, đặt để mình vào vị trí của mẹ ngày xưa, kiêu hãnh nhìn ngắm sự sợ hãi, khỏa lấp chùi mép của “địch thủ”, cao ngạo tha thứ củng cố vị trí tự tôn của mình!

Chồng tôi, đôi mắt nâu hun hút dưới chân mày rậm ấy, đã chôn dăm bẩy chiếc thuyền, vì tôi quá quắt, âm ỉ dịu dàng lèo lái, khéo léo vần nắn hướng đi, chàng phá bĩnh cũng dịu dàng gian dối, cũng khéo léo đậy che. Theo ngày tiễn tháng chôn năm, thuyền đầu là tình tôi mục rữa, cột buồm là luân lý giáo khoa còn lại đâm vào mắt tôi, xóc vào tim họ bão tố triền miên, không lúc nghỉ ngơi. Những cơn bão tạo sóng ngầm trong gian nhà rộng lúc nào cũng lạnh, vì tôi không bao giờ to tiếng, ngay cả khi khóc lúc cười.

Tôi ngao ngán nhìn chiếc thuyền cuối đang lờ lững tiến vào đôi mắt nâu hun hút dưới đôi chân mày rậm đã có vài sợi bạc, là người đàn bà đang còn ở Việt Nam, những câu chữ dịu dàng, những hình ảnh trao qua gởi lại trên chiếc I-pad, tin nhắn liên tục trên chiếc I-phone.  Thuyền muốn viễn xứ, người xa xứ mở rộng đôi tay, bây giờ viễn xứ có gì khó, đi du lịch thăm bạn hữu, viếng thắng cảnh ai cấm được ai! Người viễn xứ đâu cần qui cố hương mới tìm được thuyền tình nữa chứ.

Lý do để tôi chịu thua lùi bước, không phải vì người đàn bà ấy cao tay ấn hơn tôi, đã chiếm trọn đời sống người tôi đã “bắt” vài mươi năm trước, lý do là từ Amanda, đứa con gái thứ hai của tôi,  đã cho tôi biết nó quá chán ngán nhìn ngắm mom và dad giả dối cần có nhau: “Let him go Mom!”

Thôi thì mở tung cửa đoài ly, khép lại cổng càn khôn, vuông là bốn cạnh không đều, tròn là vòng kép kín không tâm.

Kiếp sau nếu có chỉ là hư không!

Ấu Tím

Dâu!


Lâu rồi không còn thèm thuồng trái dâu chín mọng, trái dâu một thuở Đà Lạt êm đềm. Ngày ấy dâu là món đắt tiền phải vào dịp đặc biệt mới dám mua, chẳng nhớ dâu được trồng ở xó xỉnh nào trên Đà Lạt, chỉ nhớ mận Trại Hầm, những trái mận chua chua màu xanh, khó lắm mới có cây cho vị ngòn ngọt, gần đến hạt trái có vị đắng làm mất cả ngon, sau này các cô gái Đà Lạt tỉ mỉ dùng dao lam khứa mỏng trái mận làm mứt, mứt mận ngon và đẹp vì công ngồi cắt vòng, ngâm cho ra hết vị chua vị đắng, để tẩm đường vào, trái mận màu xanh vàng biến thành màu đỏ hổ phách thơm tho. Khu đập Đa Thiện – ấp Thái Phiên người ta trồng cà rốt, đến mùa thu hoạch, trước khi đem ra chợ bán, dân buôn mang cà rốt xuống bờ hồ, gần cầu Ông Đạo rửa cho sạch đất cát trước khi đóng hàng gởi về Sài Gòn bán. Khu Nha Địa Dư, chuyên trồng rau xà lách, loại lá lụa từng búp để ăn với thịt bò xào, loại cứng lá nhúng nhai giòn sần sật thuở ấy được người Đà Lạt ăn kèm với phở thay giá, bông cải cũng được trồng ở khu này. Ấp Du Sinh hình như trồng khoai tây, cà rốt và đủ mọi thứ. Đọc tiếp “Dâu!”

Thạch Chè – Một Tên Gọi

Nói đến các món ăn tráng miệng, các món ăn chơi ở San Jose không biết phải viết sao cho đủ. Ngoài các món ăn chính cơm, phở hũ tiếu, mì v.v còn các tiệm chuyên bán chè, cùng vài loại bánh ngọt, được đặt tên là Hiển Khánh.
Bảng hiệu Hiển Khánh xuất phát từ Sài Gòn thời 60, đi đâu cũng thấy – nam , bắc Cali ngay cả đến các tiểu bang ở xa cũng thấy tên Hiển Khánh thân thuộc này, tên hiệu này in đậm vào nỗi nhớ của một số đông người Việt Nam đã xa quê hương xứ sở. Các cụ khi được mời ă bánh trung thu luôn so sánh với bánh Đông Hưng Viên, đặt bánh phu thê, bánh cốm, bánh đậu xanh phải tìm đến tiệm Bảo Hiên Rồng Vàng, cho dù ông bà chủ tiệm bây giờ chẳng dính líu gì đến các ông các bà chủ tiệm ngày xưa. Đọc tiếp “Thạch Chè – Một Tên Gọi”

Bánh Ma-cà-rồng

Tên bánh nghe sợ không? Macaroon chỉ là bột hạnh nhân và đường thế thôi mà làm nên lịch sử, ai đã làm bánh đều muốn thử một lần loại bánh õng ẹo này, cậu con trai của mình đã sang Pháp về nhà hí hoáy làm sau khi dự một lớp học phải ghi danh từ Mỹ trước cả năm (?) vé máy bay đi chơi tiền đóng để học – phần mình bây giờ ngồi nhà chơi vào youtube đọc tá lả các loại bánh và làm thử lần đầu vì trong nhà có đủ những điều kiện phải có bột đường trái cây héo và ngay cả lòng trắng trứng cũ – thì làm thử xem sao – vừa làm cơm chiều cho đúng 6 giờ bưng mâm lên cho quan thời – vừa đánh trứng khuấy trộn, vừa xào nấu vừa thử đầu óc mình còn làm việc hay không, may nhờ có chiếc nồi IP hiệu quả nên đúng giờ ăn chiều không bị mắng! Cũng vui – kết quả đẹp xấu ngon dở ra sao tính sau.

Đọc tiếp “Bánh Ma-cà-rồng”

Nhuốm Màu Thời Gian


Là Mẹ có dễ không nhỉ – đến nay khi đã có cháu ngoại rồi mình nhìn ngắm lại khoảng thời gian làm mẹ của mình nhiều bồi hồi không tả – các bạn trên facebook đăng những hình ảnh thuở xưa khi các cháu còn bé nay các cô các cậu ấy đã thành nhân hình cậu bé sún răng nay là bác sĩ – cô bé tóc bum bê nay là kỹ sư – có cháu không là gì cả chỉ có một gia đình êm ấm để các bà mẹ được lên chức làm bà nội bà ngoại đã là đủ! Đọc tiếp “Nhuốm Màu Thời Gian”