Tuyên Ngôn Yêu

Lễ tình nhân là gì?
Là ly cà phê Mình pha cho em buổi sáng!
Là bát cháo lúa mạch Mình nấu cho em ngày mưa!
Là câu mắng yêu “ngủ trương” không dậy sớm!
Là đủ thứ trò chọc ghẹo cho em cười,
khi em phụng phịu đòi “kim cương” ngày lễ Tình Nhân!
Tình yêu có cần gì hoa hồng người em yêu ơi!
Tình yêu có cần gì kẹo ngọt người yêu em hỡi!
Mình đâu còn là tình nhân thuở đôi chín – đôi mươi
Mình là hai cụ tóc đã phai màu vẫn quấn quít yêu nhau!
Yêu bằng trái tim sợ mỡ cao máu đặc
Yêu bằng tấm lòng sợ gan yếu ruột dư!
Không phải ghen tương khi đi sớm về trưa
Chỉ lo sợ bác sĩ kêu y tá nhắc!
Lễ tình nhân là gì Mình nhỉ?
Có phải là ngày dành cho những cô cậu chưa biết yêu!
Vì đã biết rồi cần chi ai nhắc nhở
Phải tặng hoa hồng – thiệp đỏ – kẹo đen!
Chỉ yêu thế thôi sợ ngày Chúa kêu Phật rước
Mất biệt nhau không nói kịp câu yêu.
Yêu là yêu không cần ai nhắc nhở
“Hãy yêu nhau như chưa yêu lần nào”
(Dối như cuội mà người nghe vẫn thích)
Em biết Mình yêu em y như thuở ấy
Thuở em còn xuân thắm nét yêu kiều
Thuở em còn kiêu kỳ hơn công chúa
Mặt ngửng cao không cần biết đất thấp trời cao
Đến bây giờ em vào đông lạnh giá
Hoàng hậu già ngồi chễm trệ ghế bành
Mặt nhìn đất sợ sỏi trơn, đá trợt
Đi đến đâu cũng níu nắm tay Mình,
Người ta thấy bảo hai ta tình tứ
Có biết đâu không nắm “ngã” thì sao?
Ngày Tình Nhân em viết tuyên ngôn thay thiếp ( 🙂 )
Cho riêng Mình – Hoàng Đế pha cà phê
Cho riêng Anh – người em yêu em nắm
Đến cuối cuộc đời vẫn níu không buông!
Tuyên Ngôn Tình Yêu

What is Valentine’s Day?
It’s the cup of coffee You brew for me in the morning!
It’s the bowl of oatmeal You make for me on rainy days!
It’s the affectionate “sleeping-in” admonishment when I don’t get up early,
It’s all the playful banter to make me laugh, when I pout a demand for “diamonds” on Valentine’s Day!
Does love need roses, my beloved?
Does love need sweet candies, my dear lover?
We’re no longer young lovers in late teens,
We’re two old birds with gray hair still engulfed in love!
Love with a heart afraid of high cholesterol and thick blood,
Love with a mind afraid of liver failure and vermiform appendix!
No jealousy when one leaves early and returns late
Simply worry about doctors’ orders and nurses’ reminders!
What say you is Valentine’s Day?
Is it the day for those who are yet to fall in love?
For once we have, who would need reminding?
To give roses, red card, black candy!
Just be in love, lest God call or Buddha beckon,
We may lose each other without speaking love.
Love is love with no reminders,
“Love each other as if we’ve never loved before”
(telling tall tales like “the moon boy” but still sweet to the ears)
I know you love me just as much as
When I was blossoming into an exquisite beauty,
When I was more majestic than a princess,
Head held high without a care in the world.
But now I step into the cold winter,
An old queen sitting high in a plush armchair,
Looking down for fear of slipping on pebbles and rocks,
Wherever we go, I hold tight onto your hand,
They say we’re being affectionate,
Little would they know without MY hand YOU might “fall”
On Valentine’s Day, I write a statement in lieu of a card as your faithful mistress
For your eyes only – Your coffee-making Majesty
For only you – the one I love and onto whom I hold,
Till the end of our lives, never letting go!”

Mai Ơi

Từ lúc nào mai bước vào đời sống tôi. Mỗi cuối năm, ngày cận Tết, thế nào trong nhà  cũng có một nơi thật trang trọng cho gốc mai. Thường thì ngay góc nhà, nơi có bộ bàn ghế để tiếp khách. 

Cứ nhiều năm như thế, không nhớ từ bao giờ Tết với tôi là nụ mai. Tết với tôi là được theo ba đi lựa gốc mai. Gốc phải thật to cứng mạnh, cành phải thật mảnh thon gầy, dáng phải thanh mềm mại và nụ phải  xanh mướt  

Có một năm hai cha con đi đốn mai, vườn mai trên Thủ Đức, nhà bạn của ba. Gọi là vườn không đúng lắm, khu đất ấy rất rộng, lại gần khu quân sự nên trở thành đất hoang, mai mọc như rừng. Những thân cây nhìn như khô mục, màu nâu, lá còn lá mất, bạn ba nói:  “phải chọn những thân to, tuổi cây đã chín, nhìn những kẽ nứt nụ để đoán hoa đẹp hay không ?”  Hai ông nói chuyện, tôi ngây người nhìn chung quanh, cây khô héo cách chi bung hoa ngày Tết. Thế mà năm ấy nhà tôi có cây mai đẹp không sao tả được. Trong chiếc lục bình cao gần đến ngực  tôi, cành mai vươn đụng trần nhà, nụ ơi là nụ, những chùm nụ xanh biếc. Được uống đủ nước, nụ mai mỗi ngày mỗi căng mọng. Ngày nào ba tôi cũng xăm soi ngắm nghía, ông cho chị em tôi treo vài phong bao lì xì màu đỏ lên nhánh thấp nhất, ông mời các bác hàng xóm cùng sang ngắm nghía với ông. Ngày gốc mai được chở về nhà, hàng xóm ai cũng thích, ai cũng ước ao có một gốc mai khỏe như thế.

Ngày ba mươi tháng chạp, tất cả nụ mai như  hẹn nhau, cùng  nở mừng Xuân hay sao mà màu vàng đã nhô ra khỏi  nụ. Dù nôn nao áo dài mới, hài cườm tôi vẫn không quên ghé mắt thăm chừng những chiếc nụ con con ấy. 

Giao thừa thoang thỏang hương trầm, se se gío lạnh lùa qua khung cửa,  không gian lặng im chờ đón, những nụ mai len lén nở bung. Từ dưới gốc, trên nhành cao, màu vàng rực rỡ yêu kiều ngự trị. Hoa vàng mười cánh, mười hai cánh, hoa bé nhất cũng tám chín cánh, những nụ mai chưa nở không tỏ vẻ gì xấu hổ, lại còn ngạo nghễ hơn nữa như hẹn hò đợi ngày khoe sắc, xem ai thắm hơn ai?  Gốc mai năm ấy, màu mai năm ấy đẹp như chiếc áo lụa vàng tôi khoác lên người đêm trừ tịch. Chiếc áo lụa vàng có hoa văn lá trúc.

Nhớ một mùa Xuân không còn ba tôi nữa, vẫn áo lụa vàng hoa văn lá trúc, sáng mồng một Tết cùng anh xuất hành đón Xuân. Mùa Xuân năm ấy lặng lẽ ngủ vùi ảm đạm, không pháo không hoa, không bánh chưng xanh không dưa hấu đỏ, người người buồn bã chuyện chia ly, tù tội, mất còn. Vườn chùa vắng vẻ, tiếng chuông mõ thảng hoặc gióng lên vội vã, vài con bướm ngẩn ngơ tự hỏi, người xưa đâu, Xuân xưa đâu ? Lặng lẽ cội mai già chết mục trong góc sân cố nở vài hoa. Hình ảnh đóa mai ấy luôn ẩn hiện trong ký ức của tôi. Từ gốc mai đã chết, một nhành thật mong manh xót lại, nở hoa. Trong tột cùng tuyệt vọng, hy vọng vẫn ươm mầm.

Hôm nay, hơn nửa vòng địa cầu, người ta đang ngóng chờ một ngày Xuân. Sự ngóng chờ biểu hiện qua những quảng cáo về những chương trình hội Xuân đi chung với các chương trình văn nghệ. Những bài hát Ly Rượu Mừng, Xuân Ca, Xuân Họp Mặt lại được phát thanh vang vang, mỗi năm lòng tôi mỗi nhạt nhòa đi hình ảnh cũ xưa dù nhớ nhung vẫn còn phảng phất.

 Tôi và chắc chắn nhiều người khác nữa đã tìm kiếm gốc mai xưa, tìm kiếm lại những hồi ức quá khứ, từ những lá rau thơm đến cả những hoa những lá biểu trưng về quê mẹ xa vời, Mai Lan – Cúc – Trúc. Cách đây chục năm mai là mai tứ quý, lá nhỏ hoa rũ, màu vàng nhạt, sau khi hoa tàn là trái có hình như chú chuột Mickey. Mai bây giờ đã là Mai Việt-Nam kiêu hãnh ngước mặt lên trời, nhiều cánh vàng tươi.

Tôi nhớ tôi đã ươm Mai bằng hạt nhớ, hạt hòai niệm, hạt chờ mong. Chiếc hạt con con màu đen bé bỏng, gói trong chiếc phong bì, gởi đến tôi từ quê cha đất mẹ. Tôi trân trọng ươm hạt trong đất tạm dung, hạt nẩy mầm. Mùa lạnh tôi mang hạt vào nhà sưởi ấm, gío bão tôi mang hạt trốn bão cùng tôi. Ngày cây mai non xuất hiện tôi sung sướng biết bao. Ba năm dài đằng đẵng đợi chờ, cây vẫn gầy gò, lá vẫn mong manh yếu đuối. Năm thứ tư, tôi lảy lá dù cây chỉ vài tấc cao, lạ lùng sao cây tặng tôi bao nhiêu là nụ. 

Tôi run rẩy uốn cành, tôi hân hoan bón gốc, mai của quê hương đã đến cùng tôi. Hoa không vàng như nắng Sài-Gòn, cũng đủ an ủi tôi nơi xứ lạ, gốc mai chưa đủ già để khoe gân khoe guốc , nhưng đủ cho tôi biết dù khắc nghiệt đổi thay, mai vẫn tràn đầy sức sống. Mai không nở đúng ngày Tết mặt trăng, hoa theo thì theo mùa Xuân mới, mai vẫn là mai của tôi trong ký ức, đóa mai năm cánh, sáu cánh đơn sơ rạng rỡ ngày nào, đua sắc với hồng với đào xứ lạ. Mai trong tôi vẫn yêu kiều dáng ngọc năm xưa.

Năm nay Mai buồn mai đông đá, không thấy nụ đâu.

For many years now, I don’t remember when exactly, Tet for me has always been the apricot blossom. Tet for me means going with my father to choose a good apricot tree. The tree must be strong and sturdy, the branches must be delicate and slender, the shape must be graceful, and the buds must be a vibrant green.

One year, father and I went to cut apricot trees in a garden in Thu Duc, a friend’s place. Calling it a garden isn’t quite right; the land is vast, near a military area, so it had become vacant land, and the apricots grew like a forest. The tree trunks looked dry and decayed, brown, with leaves scattered here and there. Father’s friend said, “You must choose the large trunks, the ones that have matured, and examine the cracks in the buds to predict whether the flowers will bloom beautifully.” The two men were talking, and I stood there, blankly staring at the surroundings. How could such dry trees bloom during Tet? Yet that year, our house had the most beautiful apricot tree, beyond description. In the tall vase that reached up to my chest, the apricot branches reached up to the ceiling, with buds everywhere, bunches of vivid green buds. With enough water, the buds grew plump and swollen every day. Every day, father would carefully inspect them, and he would ask my siblings and me to hang a few red envelopes on the lowest branches. He also invited the neighbors to come and admire it with him. On the day the apricot tree was brought home, everyone in the neighborhood liked it, and they all wished they had an apricot tree as healthy as that one.

On the thirty-first of December, all the apricot buds seemed to have made a silent agreement, blooming together to welcome the Spring, with the yellow petals just peeking out from the buds. Even though I was eagerly waiting for my new ao dai (traditional dress) and my beaded slippers, I still couldn’t help but glance at those little buds.

On New Year’s Eve, the incense scent lingered, and a chilly breeze would slip through the window, the space around us was still, waiting for the new year to arrive. The apricot buds gently bloomed. From the base to the high branches, brilliant yellow flowers, delicate and graceful, took their place. The flowers, ten-petaled, twelve-petaled, with even the smallest flowers having eight or nine petals, and the unbloomed buds didn’t seem shy at all. They looked proudly like they were waiting to show off their beauty, competing with one another to see who could be the most vibrant. That apricot tree, that year’s flowers, were as beautiful as the golden silk dress I wore on the night of Tet, the golden silk dress with bamboo leaf patterns.

I remember a Spring when my father was no longer with us. I still wore the golden silk dress with the bamboo leaf patterns. On the first day of Tet, my brother and I went out to greet the new year. That Spring was quietly gloomy, with no fireworks, no flowers, no sticky rice cakes, no red watermelon, and everyone was sad over stories of separation, imprisonment, life and death. The temple garden was quiet, and the temple bell rang occasionally, hurriedly, while a few butterflies fluttered, wondering where the old ones had gone, where the past Spring had gone. Silently, the old apricot tree in the corner of the yard died, trying to bloom a few flowers. That image of the apricot flowers always lingers in my memory. From the dead apricot tree, a fragile branch remained, still blooming. In the deepest despair, hope still finds a way to grow.

Today, halfway across the world, people are waiting for the arrival of another Spring. The anticipation is reflected in advertisements about Spring festivals paired with cultural performances. Songs like “Ly Ruou Mung” (Happy New Year Wine), “Xuan Ca” (Spring Songs), and “Xuan Hop Mat” (Spring Reunion) are broadcast, and every year, the image of the past fades a little more, although the longing still lingers.

I, and many others, have been searching for that old apricot tree, seeking the memories of the past, from fragrant herbs to flowers and leaves that symbolize the distant homeland—Mai Lan (Apricot), Chrysanthemum, Bamboo. Ten years ago, apricots were the “Mai Tu Quy” variety, small leaves and drooping flowers, pale yellow, and after the flowers faded, the fruit looked like a little Mickey Mouse. Now, apricots are the proud Vietnamese variety, with many bright yellow petals that face the sky.

I remember planting apricots with seeds of memories, seeds of longing, seeds of anticipation. The tiny black seeds, wrapped in an envelope, were sent to me from my homeland. I cherished planting them in temporary soil, and the seed sprouted. In the cold winter, I would bring the seed inside to keep warm. In the storms, I would protect it with me. The day the young apricot tree sprouted, I was so happy. After three long years of waiting, the tree was still thin, the leaves fragile and weak. In the fourth year, though the tree was only a few inches tall, it miraculously gifted me so many buds.

I trembled as I bent the branches, joyfully fertilizing the roots. The apricot tree from my homeland had come to me. The flowers weren’t as yellow as the sun in Saigon, but they comforted me in this foreign land. The apricot tree wasn’t yet old enough to show off its full strength, but it was enough to remind me that, despite the harsh changes, the apricot tree was still full of life. The apricot tree didn’t bloom exactly on Tet, according to the moon, but it bloomed in the new Spring, and it was still my apricot tree in my memories, with its five or six-petaled flowers that once bloomed brightly, competing with the peach and cherry blossoms in the foreign land. The apricot tree in my heart is still as graceful as it was in the past.

This year, the apricot is sad and frozen, and I don’t see any buds.

 

Tiễn Táo

Táo à Táo!
Ngày xưa Táo dính lọ nghẹ
Ngày nay Táo có phấn có son
Có phi thuyền có luôn cả wifi
Nên! Táo à Táo

Trên bếp điện từ có nồi chè xôi nước
Trong nồi áp suất có hấp ba cái bánh bao
Táo liệu lên trên ấy
báo cho Ngọc Hoàng Thượng Đế
biết rằng nhà này nó loạn lắm rồi
Không có thèo lèo cứt chuột
Không có áo giấy mũ chuồn
Không có luôn cá chép biết bay
Nói chung là cái gì cũng không có!

Mà nó có nỗi nhớ khi vò viên xôi nước
Người ta biểu lấy bột nhào nắn cho trôi
Nó rị mọ ngâm nếp nấu xôi rồi giã rồi nhồi
Kéo dài thời gian nhung nhớ!
Đọc tiếp “Tiễn Táo”

Ô Mai

Không có nghĩa là người tên Mai có nước da bánh mật hay đen giòn đâu đấy – anh chàng Trò Tê cho bài viết bằng tiếng Trung Hoa về món ăn vặt Mơ Mai làm thành màu đen thui ngẫm ra đúng thật, hoa mai hoa mận kết thành trái mai trái mơ, chúng nó cùng gia phả thì phải, hoa giống nhau trái cũng chua chua giống nhau đứa thì da trơn láng gọi là trái mận, đứa nào da có lông tơ thì gọi là mơ!
Xuân đến hoa mơ hoa mận nở – gái Xuân giũ lụa trên sông Vân (Nguyễn Bính)
Cứ mơ mận thế thôi chẳng biết là người ta lấy trái làm món ăn mình mê tít một thời, con gái đứa nào chả thích ô mai. Đọc tiếp “Ô Mai”

Hàn Vi và Bạn Hữu


Kevin Le tác giả của quyển sách The Outcast Amerasian được báo chí nhắc đến đã lâu, vì không có nhiều tác giả Việt Nam viết sách bằng tiếng bản xứ trên đất Mỹ – tôi biết đến tên Kevin Le lâu rồi và chẳng mảy may để ý, cho đến khi biết ra tác giả đã sống cùng thời lận đận với tôi, là bạn rất thân thiết với gia đình tôi.
Thuở ấy chúng tôi một nhóm sáu đứa, dĩ nhiên Kevin cùng trong nhóm, đạp xe khắp thành phố Sài Gòn, vào từng hang cùng ngõ hẻm để đến gia đình của một người bạn, người bạn này di cư hầu như mỗi tháng, vì bố là ngụy quân đã bị bắt đi tù cải tạo, nhà ở trong trại gia binh đã bị chiếm bởi cộng sản, may mà có người nhà làm việc trong Nha Điền Địa (bị đổi thành sở nhà đất sau này) biết có những ngôi nhà đã được nhà nước quản lý để làm quà tặng cho những cán bộ có công với họ, những căn nhà trống huơ hoắc vì chủ đã bỏ đi vượt biên, trong thời gian chờ đợi chủ mới, gia đình người bạn này được ở tạm. Những nơi tạm trú này ít bị công an để ý, lúc ấy chuyện đi ở, chuyện kiếm sống từng ngày là chủ đề chúng tôi bàn tính nhiều nhất. Khoảng thời gian lận đận ấy nhìn lại quá “kinh hãi!” Đọc tiếp “Hàn Vi và Bạn Hữu”

Ngẫm

“. . . mỗi khúc quanh trên đường,
mang về ý tưởng mới
mỗi buổi rạng vầng đông
cảm xúc phả mùi hương. –
NTHH dịch của tác giả Vô Danh
Nguyễn Thị Hải Hà Tháng Giêng năm 2024”

Không được ghi cảm nghĩ sau những bài viết tuyệt vời của chị, em phải mang nó về nhà thế này, chị ơi em nhớ chị có hỏi em “đi du lịch để làm gì?” dạo nào ấy, em không thể ghi tách bạch từng chi tiết như chị viết, ngày còn ở Việt Nam trước 1975 em chưa được đi qua lằn ranh vĩ tuyến 17, miền Đông thì B’Lao – Đà Lạt, xoãi xuống chút đến Nha Trang là hết, còn trẻ thì hình ảnh mờ mờ là thông là cát, những tháp Chàm có thấy cũng chỉ ngắm nghía từ xa vì vào được đến đấy phải là người dân địa phương và nhất là hoang phế lắm, câu nói: “Mấy ổng ở trong trỏng!” không phải nói đến điều gì thần bí mà là nhắc đến phía bên kia, cũng cùng màu da cũng cùng dòng máu Việt!
Sau 1975, cũng có đi thăm, mà là đi buôn tìm nguồn sống, dạ rối bời bời nhìn cảnh sống miền Trung “chó ăn đá gà ăn muối”, đường đi loang lổ dấu tích chiến tranh! Trở về từ quê hương thứ hai năm 2013 nhìn ngắm lại ngỡ ngàng như chị tả.

Miền Tây sông nước trước hay sau 1975 em cũng từng ghé đến, cũng thơ cũng nhạc, cũng mùi đất cũng món ăn, trái dừa nước dừa lửa bánh xèo tôm nhảy tự vó lấy, cá đồng trên ruộng vừa gặt xong nước ngọt trong lành lội xuống cắt hẹ nước mang về ăn mắm chưng thơm ngạt mũi!
Rồi cũng thử tìm lại mà không còn nữa, bây giờ ngồi đọc chị viết em biết một điều: Tìm về kỷ niệm không dễ chút nào, khi mình đi tìm là nó đã mất có phải?
Em cám ơn chị cho em món ăn tinh thần buổi sáng trong lành!

Vỡ Tim

Có nhiều điều không ai giải thích được, nhưng yêu nhau và vỡ tim theo nhau thì giải thích được, tình đầu cũng là tình cuối thuở son trẻ đến khi già lão!

Tôi có những người bạn như thế, gương của họ khiến tôi vừa ngưỡng mộ vừa yêu say đắm hơn nữa cuộc đời này. Anh chị là đàn anh của chồng tôi, người đã huấn luyện dìu dắt “đàn em” trên con đường binh nghiệp, anh khóa 23 trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt sống với nhau vài năm trong quân trường hẳn tình thân khó dứt, nhắc đến tên ai cũng biết ai. Đọc tiếp “Vỡ Tim”

Lễ

Năm nay dự định đi chơi rồi lại bệnh, nhưng lại vui vì không phải chen chúc với vài triệu người trên xa lộ 101 – 405 hay phi trường LAX – SJC – SNA! Bạn thì sao?

Nhà có ba đứa con thì mỗi đứa ở một quận hạt khác nhau, nếu tính nhà mình là Sài Gòn thì một đứa ở mạn Bắc cỡ Thủ Dầu Một, một đứa ở mạn Nam gấp bốn lần đi mũi Cà Mau, một đứa thì gần hơn chút xịch qua hướng Tây xa hơn Trảng Bàng một chút,  va`sau lễ Tạ Ơn trên mảnh vườn sân sau bắt đầu được vỡ đất xây căn nhà be bé xinh xinh!

Có cái này phải chịu mất cái kia, có nhà thì những cây bưởi cây tắc cây mơ và khu vườn “thiền định” phải chấp nhận đi vào quên lãng, theo thời gian mình biết sức mình cần gì, cần con cháu quanh quẩn hơn là cây lúc lỉu trái.
Anh bảo bưởi thơm thật mà uống thuốc . . . người ta khuyên không ăn bưởi . . . thôi nghen em! Đọc tiếp “Lễ”

Gọi Em là Đóa Hoa Sầu

Và Ẩn Lan là:

” Đoạn thơ được phổ nhạc vốn nằm trong Bức thứ 16 được tác giả tóm lược nội dung như sau: “Vương Quan hồi tưởng người yêu cũ – nàng Ẩn Lan (con gái Hồ ông), và dự định đi theo Ngô Khôi thăm Thầy học”. Vương Quan ở đây chính là em trai của Vương Thúy Kiều và Thúy Vân. Người yêu của Vương Quan là nàng Ẩn Lan đã xuất hiện lần đầu từ Bức thứ 14, với nội dung: “Ngô Khôi tới dâng Kim Trọng đôi chim Đại Hồi, nhờ vậy Vương Quan đã tìm được tung tích Hồ Ông (Thầy học của Kim, Quan, Kiều) – Dòng dõi Hồ Quý Ly (Việt Nam) lưu lạc bên Tàu, là một học giả chủ trương (“Tư Hòa Hành Hóa”)”. (*) Trước đó, ở Bức thứ 13, một bà cụ già đã tới công đường nơi Kim Trọng làm việc để xin giải oan cho người con trai. Kim Trọng đã tra xét và giải oan cho người này. Anh ta là Ngô Khôi. Ngô Khôi được thả khỏi tù, về quê nhà, sau đó anh mang đến đôi chim Đại Hồi để cảm tạ Kim Trọng. Ngô Khôi kể chuyện quê nhà mình như sau: Đọc tiếp “Gọi Em là Đóa Hoa Sầu”

Tiếng Thời Gian


Bài hát này càng nghe càng thấm nỗi niềm trầm mặc của tiếng chuông đồng hồ tích tắc – nền nhạc cũ xưa trước 1975 không có digital – mời bạn nghe cùng tôi nhé, lớn gần đến đỉnh thất thập nhi tùng tâm sở dục bất du củ. . . thich gì không vượt qua giới hạn thì cứ làm, chồng có chê có chòng ghẹo chi cũng mặc, bạn có cười cười chuyện mình múa may cũng mặc, đã đến cái khoảng này không làm được theo ý mình thích cứ theo kiểu sợ “họ cười” tùng phụ tùng phu tùng tử đã tiêu mất rồi, bây giờ còn theo những điều ấy là tự mình tùng xẻo mình thì sao!

Cho nên tóm lại là mình thích hát lắm, 8 tuổi đã lên sân khấu vì bà nội mang cháu đi khoe – đám cưới chú cô trong nhà thế nào cũng bắt kê ghế đẩu lên cái bàn cho cô cháu mặc áo đầm thật đẹp đứng lên đó hát bài nào bà nội bảo hát – nghe vỗ tay rầm rầm mà có thích chi đâu, chỉ thích lời bà hứa: “Con hát xong tối bà mở radio cho nghe!” chao ơi! nỗi nhớ của 60 năm về trước hiện về, buổi tối ngủ với bà nội những đêm Hạ oi ả, lý do mùa Hè ở nhà nghịch quá, thế là được giao cho bà Nội để bố mẹ rảnh tay với các em, thế là nghe đủ thứ nhạc, có cả cải lương của cô Bích Thuận Bích Sơn, ngoan nghe lời bà sẽ được đến rạp hát xem cải lương còn chi bằng, thế là con bé . . . mầm non . . . xinh xắn cứ theo bà dẫn đi ăn tiệc giỗ – cưới, bà lại là bà “tiên chỉ” ngày xưa nên được mời suốt thôi, nhưng cũng bị khổ vô cùng về chuyện sáng 5 giờ phải theo bà đi lễ sớm!
Chúa ơi! Ông chánh chương (?) là quỷ dữ trong cung thánh đối với con bé, lý do con nít phải ngồi trên hàng ghế nhất ghế nhì, ngủ gục là nghe tiếng cái roi vụt vào thành ghế giật mình tỉnh giấc . . . nhưng lễ xong lại được ăn bánh trôi xôi vò, được cha xứ cho ăn viền bánh lễ! Ông chánh chương quỷ dữ khi ấy lại thành ông . . . từ hiền lành ra chào hỏi nói chuyện với bà và khen con cháu ngoan (?) Ôi thời gian . . .nên đừng cười khi nghe bà già hát líu lo nhé!

(“Tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập tri thiên mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận, thất thập nhi tùng tâm sở dục bất du củ” Khổng Tử – Luận Ngữ)